CÁCH LẬP BÀI VỊ TỔ TIÊN CHA MẸ
Cách lập bài vị ông bà tổ tiên cha mẹ
1. Ngày xưa, ông cha
ta học chữ Hán Nôm, vì vậy bài vị được viết bằng chữ Hán nôm là đúng. Nhưng
ngày nay, con cháu không còn học chữ Hán mà đang học chữ quốc ngữ, vậy phải
viết bài vị theo chữ nào?
Trong thực tế hiện
nay, hầu hết các gia đình đều nhờ đến các sư hoặc các thầy cúng làm bài vị khi
có người mất, từ đó các bài vị cũng được viết bằng chữ Hán Nôm, dù cả người
sống và người đã mất đều không biết một tí ti nào về những chữ Hán Nôm ghi trên
bài vị này. Đó hình như là một “thói quen”, hình như vẫn còn đâu đó có suy nghĩ
nếu bài vị không được viết bằng chữ Hán Nôm là “không nghiêm túc”, “không đẹp”,
“không thật sự thương tiếc”; ngoài ra cũng có nơi cho rằng vì đã nhờ cậy nên
viết thế nào cũng được, chữ Hán Nôm hay chữ Việt không quan trọng mà quan trọng
là ở tấm lòng; từ đó mà hết đời này sang đời khác, hết người này đến người khác
đều được viết bài vị bằng chữ Hán Nôm. Quan niệm của ông cha ta xưa khi làm bài
vị cho người đã mất là để tưởng nhớ và để thờ cúng, người đã mất sẽ hiện diện ở
bài vị mỗi khi có cúng tế, nhà có nhiều bài vị (vì cúng đến 4 đời trên) thì khi
cúng tế người nào, bài vị của người đó sẽ được đem đặt vào chính giữa bàn thờ,
khi cúng xong mới đưa trở lại vị trí cũ. Quan niệm như thế là phù hợp với lúc
bấy giờ, ông cha ta đều học chữ Hán Nôm, người sống cũng như người đã mất nhìn
vào bài vị cũng biết được bài vị là của người nào, của tổ tiên nào, khi cúng tế
vị nào thì biết mà đưa bài vị vào chính giữa, người đã mất cũng biết đâu là bài
vị của mình để về hiện diện đúng chỗ, không phạm vào chỗ của tổ tiên khác.Ngày
nay, bài vị nên viết bằng chữ quốc ngữ cho dễ đọc dễ hiễu.
Cũng không nên phân
biệt chữ Hán Nôm và chữ thuần Việt, vì có những chữ không có chữ thuần Việt,
hoặc nếu có thì nghe không hay, không có ý kính trọng, thí dụ: tằng tổ khảo =
ông nội ( ông cố), Ví Dụ: không lẽ trên bài vị viết: “Ông nội (ông cố) Nguyễn
quý công húy Trọng Hòa chi linh vị”, vừa Hán Việt vừa thuần Việt đọc nghe lủng
củng, trong khi nếu viết: “Tằng tổ khảo Nguyễn quý công húy Trọng Hòa chi linh
vị” thì sẽ dễ được chấp thuận hơn.
2. Việc ghi vai vế của
người mất làm cho bài vị phải làm mới liên tục khi có một đời khác thay thế làm
người chủ cúng, thí dụ A là người chủ cúng thì A thờ cúng 4 đời gồm cha mẹ, ông
bà nội, ông bà cố, ông bà sơ và bài vị cũng được lưu giữ 4 đời, nhưng khi A
mất, con A là B thay làm người chủ cúng thì ngoài việc lập bài vị cha mẹ mới
mất (A), B còn phải làm mới lại bài vị của ông bà nội (thay vì cha mẹ), ông bà
cố (thay vì ông bà nội), ông bà sơ (thay vì ông bà cố). Vì vậy ta không nên ghi
vai vế vào trong bài vị mới có thể lưu giữ được 4 đời, người chủ cúng tự biết
vai vế của bài vị đó.
3. Có người cho rằng
số chữ trên bài vị được tính theo lần lượt là Quỷ – Khốc – Linh – Thính là điều
mê tín, ngày nay nên bải bỏ. Đây là vấn đề tế nhị phụ thuộc vào tâm linh của
từng người, từng nhà thì hãy để cho từng người, từng nhà quyết định. Nói rằng
mê tín nên bải bỏ thì còn nhiều việc nữa có nên bải bỏ không, thí dụ coi ngày
giờ tẩm liệm, động quan, hạ huyệt, chôn …

Nhận xét
Đăng nhận xét